1) PGS.
TS.
VĂN NGỌC THÀNH, khoa Lịch Sử - trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, đăng bài: CÁC
VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN , địa chỉ http://user.hnue.edu.vn/index.php?page=news&uid=118&news_id=389.
Xem xong tưởng rằng ngài Phó Giáo Sư Tiến Sĩ dịch từ bản tiếng Anh của G.
Coedès do Đại học Hawaii ấn hành 1968. Không ngờ đây là bản dịch của Ngô Bắc, đăng trên website Gio-O năm 2006. Ngài PGS-TS đăng lại không sai một dấu chấm, dấu phẩy.
Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013
Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013
Du lịch là một hoạt động đặc thù
Du lịch thường được miêu tả chỉ đơn thuần
là một hoạt động. Năm 1979, Hiệp hội Du lịch Anh quốc dựa trên công trình của
Burkart và Medlik (1974) để định nghĩa:
(D5)
“Du lịch là bao gồm bất kỳ hoạt động có liên quan đến sự di chuyển tạm thời và
ngắn hạn của con người đến những địa điểm ngoài nơi họ thường sống và làm việc,
và những hoạt động của họ trong thời gian lưu trú tại các nơi đến này” (Tourism is deemed to include
any activity concerned with the temporary short–term movement of people to
destinations outside the places where they normally live and work, and their
activities during the stay at these destinations [1]).
Có thể thấy ở đây, du lịch bao gồm hai hoạt
động chính là lữ hành và những hoạt động khác tại nơi đến bao
gồm cả giải quyết công việc và lưu trú
nhưng mang tính chất tạm thời và ngắn hạn. Nhưng như thế nào là ngắn hạn? Theo
Mill và Morrison (1982) thì:
(D6) “Du lịch là một hoạt động. Trong
điều kiện quốc tế, xảy ra con khi con người vượt biên giới nhằm mục đích giải
trí hoặc giải quyết công việc và lưu trú ít nhất 24 giờ nhưng quá một năm”
(Tourism is an activity. It is an
activity that takes place when, in international terms, people cross borders
for leisure or business and stay at least 24 hours but less than one year [2]).
Ở đây thì có thể thấy định nghĩa du lịch
đang dần hướng về khía cạnh kỹ thuật chứ không đơn thuần là khái niệm nữa rồi.
Tuy vậy, yếu tố kỹ thuật “ít nhất 24 giờ” đã loại bỏ loại hình du lịch tàu biển
vốn là loại hình có mức tăng trưởng nhanh nhất trong ngành du lịch[3].
Tại Việt Nam đối tượng khách
tàu biển là những người có mức chi tiêu cao, bình quân 300 - 400 USD/ngày/khách,
cao hơn từ 20 đến 30% so với những đối tượng du khách đến Việt Nam bằng đường hàng không, đường bộ[4].
Đến 1992 thì Mill và Morrison nêu rằng: “Tourism is the term given to the activity
that occurs when people travel. This encompasses everything from the planning
of the trip, the travel to the destination area, the stay itself, the return
and the reminiscences about it afterward. It includes the activities the
traveller undertakes as part of the trip, the purchases made, and the
interactions that occur between host and guest in the destination area. In sum
it is all of the activities and impacts that occur when a visitor travels.”
(Mill & Morrison (l992: 9) {Sinh viên phân tích và thảo luận định nghĩa
này}.
Định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới – WTO/UNWTO
(World Tourism Oganization) được chấp nhận rộng rãi nhất trên thế giới. Tại Hội
nghị quốc tế về Lữ hành và Thống kê Du lịch ở Ottawa – Canada, tháng Sáu năm
1991, định nghĩa du lịch là:
(D7)
“Các hoạt động của người ta bên ngoài môi trường bình thường của họ trong thời
gian ít hơn khoảng thời gian đã định và mục đích chính của chuyến lữ hành không
phải để làm việc để nhận thù lao trong phạm vi vùng tới thăm” (The activities of a person
outside his or her usual environment for less than a specified period of time
and whose main purpose of travel is other than exercise of an activity
remunerated from the place visited [5])
[1] Gillbert.
[2] Nguồn: Lesley Pender và Richard Sharpley (biên tập, 2005:4), The Management of Tourism, London : SAGE Publications
Ltd.
[3] V. Lê, Du lịch tàu biển -
hướng trọng tâm của du lịch Việt Nam, bài đăng trên báo điện tử Đảng Cộng
Sản Việt Nam, ngày 22/12/2009.
[4] Bài báo Lượng khách du lịch
tàu biển tăng mạnh đăng trên website www.saigon-tourist.com, không rõ tác
giả và không rõ nguồn thông tin là của Thời báo kinh tế hay của Nhân dân.
[5] Nguồn: Lesley Pender và Richard Sharpley (2005:4), dẫn lại từ
Chadwick, R. (1994) Concepts, definitions
and measures used in travel and tourism research, trong J.R.B. Ritchie and
C.R. Goeldner (eds), Travel Tourism and
Hospitality Research: A Handbook for Managers and Researchers (2nd edition:
65–80), New York: John Wiley and Sons.
Nhãn:
Du lịch học,
định nghĩa du lịch
Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013
Tuyến điểm du lịch Tây Nguyên: Sài Gòn - Buôn Ma Thuột (2)
(tiếp theo)
3. Bình Phước
Tuyến đường bộ qua các huyện: Chơn Thành, Đồng Xoài, Đồng Phú,
Bù Đăng.
Trung tâm hành chánh : Chơn Thành, Đồng Xoài, Đức Phong.
Tra cứu thông tin:
• Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Phước www.binhphuoc.gov.vn
• Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước vhttdlbinhphuoc.gov.vn
• Báo Bình Phước điện tử baobinhphuoc.com.vn
• Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai và văn hóa khảo cổ Cát Tiên (www.namcattien.vn)
3.1. Chủ đề khai thác
Chủ đề 1 : Bình
Phước
1. 5
yếu tố trãi nghiệm du lịch.
2. Bình
Long, Phước Long.
3. Dân
tộc S’Tiêng.
4. Cây
điều.
5. Cây
hồ tiêu.
Chủ đề 2 : Đồng
Xoài
1. 5
yếu tố trãi nghiệm du lịch.
2. Lịch
sử: chiến trận Đồng Xoài; chiến dịch Đường 14 – Phước Long.
Chủ đề 3 : Cát
Tiên
1. Đa
dạng sinh học tại Cát Tiên.
2. Di
tích khảo cổ Cát Tiên.
3.2. Các nội dung mở rộng:
a. Chùa
Thanh Tâm tại Đồng Phú.
b. Dân
tộc Kh’mer ở Bình Phước.
c. Du
lịch núi Bà Rá.
d. Hoàng
thân Souphanouvong.
e. Nhím
Bù Đăng.
f. Quận
3 Nha Bích.
g. Sóc
Bom Bo.
h. Tàu
Ô.
i.
Tống Lê Chân.
j.
Trảng cỏ Bù Lạch.
4. Đắc Nông
Tuyến đường bộ qua các huyện: Tuy Đức, Gia Nghĩa, Đắc Song, Đắc
Min, Cư Jút.
Trung tâm hành chánh : Kiến Đức, Gia Nghĩa, Đắc Song, Đắc Min,
Ea T’Ling.
Tra cứu thông tin:
• Cổng thông tin điện tử tỉnh Đắc Nông www.daknong.gov.vn
• Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Đắc Nông ptthdaknong.com.vn
• Báo Đắc Nông điện tử www.baodaknong.org.vn
4.1. Chủ đề khai thác
Chủ đề 4 : Đắc
Nông
1. Đắc
Nông: 5 yếu tố trãi nghiệm du lịch.
2. Gia
Nghĩa: 5 yếu tố trãi nghiệm du lịch.
3. Dân
tộc M’Nông.
4. Bô-xít
Tây Nguyên.
Chủ đề 5 : Thanh
niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh
1. Phong
trào TNXH sau 1975.
2. Tác
phẩm “Ngọc Trong Đá”.
3. Nhạc
phẩm: Hoàng hôn màu lá.
Chủ đề 6 : Đà
đá Tây Nguyên
1. Đàn
đá Dak Kar.
2. Đàn
đá Việt Nam.
3. Đàn
đá, âm nhạc Tây Nguyên và cồng chiên.
4.2. Các nội dung mở rộng:
a. Buôn
cổ Buôr.
b. Các
sắc dân thượng du thiểu số phi bản địa tại Tây Nguyên.
c. Chuyện
kể về Nâm Nung.
d. Chuyện
nàng H’mi.
e. Chuyện
nàng H’quing.
f. Cơn
bão phá rừng từ dân di cư tự do đến Tây Nguyên.
g. Du
lịch Nâm Nung.
h. N’Trang
Gưh.
i.
N’Trang Lơng.
j.
Ót N’Đ’Rông.
k. Sông
Sê-rê-pốc.
l.
Thác Đ’Rây Sáp.
m. Thác
Liêng Nung.
n. Trận
đánh Đức Lập.
5. Đắc Lắc
Tuyến đường bộ qua các huyện: Buôn Ma Thuột, Cư M’Ga, K’Rông
Búc, Ea H’Leo.
Trung tâm hành chánh : Buôn Ma Thuột, Buôn Đôn, Liên Sơn.
Tra cứu thông tin:
• Cổng thông tin điện tử tỉnh Đắc Lắc portal.daklak.gov.vn
• Báo Đắc Lắc điện tử baodaklak.vn
5.1. Chủ đề khai thác
Chủ đề 7 : Đắc
Lắc (4 đề mục)
Chủ đề 8 : Buôn
Ma Thuột (4 đề mục).
Chủ đề 9 : Bản
đôn (5 đề mục).
Chủ đề 10 : Cà
phê (7 đề mục)
Chủ đề 11 : Hồ
Lắc (3 đề mục).
5.2. Các nội dung mở rộng:
a. Câu
chuyện nàng H’Lăm và chàng Y Đ’Hin.
b. Câu
chuyện săn cá trên dòng Sê-rê-pốc.
c. Cây
Kơ–nia.
d. Chăm-pa
tại Tây Nguyên.
e. Làng
Hòa Phú – Thọ Thành.
f. Nhạc
phẩm Bay lên Chư Quin.
g. Rượu
cần của người M’nông.
h. Thác
Đ’ray H’ling.
i.
Văn hóa hòa hợp Ê’đê và M’nông.
j.
Y Jut H’Wing.
Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013
Tuyến điểm du lịch Tây Nguyên: Sài Gòn - Buôn Ma Thuột (1)
Đoạn tuyến Sài Gòn - Buôn Ma Thuột
Tuyến hành trình : TP.HCM – Bình Dương – Buôn Ma
Thuột.
Cụm tuyến chính : Sê-rê-pốc (2523), trục giao thông
Quốc lộ 14.
Cụm tuyến phụ : Gia Định (3625); Sông Bé (3626), trục giao thông
Quốc lộ 13.
Địa phương chí:
1. Thành phố Hồ Chí Minh
Tuyến đường bộ theo trục xuyên tâm đi phía bắc Sài Gòn. Đi qua
các quận I, III, Bình Thạnh, XII.
* Chủ đề khai thác
1. Thị
Nghè (4 đề mục).
2. Hàng
Sanh (5 đề mục).
3. Thủ
Đức (4 đề mục).
*
Các nội dung mở rộng:
a. Đường
Thiên lý.
b. Quốc
lộ 1 đoạn qua Gia Định – Sài Gòn và quốc lộ 1A ngày nay.
c. Tứ
đại hào phú Sài Gòn xưa.
d. Chuyện
nàng Hai Bến Nghé.
e. Chuyện
kể về Hoàng Cô và chùa Từ Ân.
f. Phạm
Duy, nhạc phẩm “Trả Lại Em Yêu”.
g. Nền
giáo dục xưa.
h. Lịch
sử truyền hình Việt Nam.
i.
Đồng Ông Cộ.
j.
Cầu Sơn.
k. Tuyến
hỏa xa Xuyên Việt.
l.
Trung tâm hành hương Fatima Bình Triệu.
m. Địa
danh Sài Gòn, miền Nam.
n. Địa
danh “con đường máu”.
o. Xa
lộ vành đai.
p. Chợ
Tam Bình.
q. Đồng
chó ngáp, rừng Cò Mi.
2. Bình Dương
Tuyến đường bộ qua các huyện: Thuận An, Thủ Dầu Một, Bến Cát.
Trung tâm hành chánh : Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Mỹ Phước.
Tra cứu thông tin:
• Trang tin điện tử tỉnh Bình Dương www.binhduong.gov.vn
• Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương www.sugia.vn
• Báo Bình Dương Online baobinhduong.org.vn
*
Chủ đề khai thác
4. Bình
Dương (4 đề mục).
5. Lái
Thiêu (4 đề mục).
6. Gốm
Bình Dương (3 đề mục).
7. Ẩm
thực Bình Dương (3 đề mục).
8. Búng
(3 đề mục).
9. Thủ
Dầu Một (8 đề mục).
10. Tương Bình
Hiệp (4 đề mục).
11. Tha La (3
đề mục).
12. Cao su (2
đề mục).
*
Các nội dung mở rộng:
a. Mặt
trận cầu Vĩnh Bình 1975.
b. Đình
Phú Long.
c. Tuyến
hỏa xa Sài Gòn – (Dĩ An –) Lộc Ninh.
d. Ông
Ngô Đình Diệm.
e. Làng
kháng chiến Bình Hòa.
f. Họ
đạo Gò.
g. Lò
chén Chòm Sao.
h. Rừng
Cò Mi và chiến khu Thuận – An – Hòa.
i.
Môn phái võ Tân Khánh – Bà Trà.
j.
Guốc mộc Việt Nam.
k. Nhà
tù Phú Lợi.
l.
Nhà văn Sơn Nam.
m. Lò
lu Đại Hưng.
n. Địa
đạo Tam giác sắt tây nam Bến Cát.
o. Địa
danh tiền tố ‘Bến’.
p. Trâu
và sữa trâu.
q. Trừ
Văn Thố.
Tuyến điểm du lịch Tây nguyên (0)
A. Học liệu đối với nội dung Tuyến điểm
1) Học liệu bắt buộc
• Bản đồ Du lịch Việt Nam, NXB Bản đồ (ấn phẩm mới nhất).
• Non nước Việt Nam,
Tổng cục Du lịch (ấn phẩm mới nhất).
2) Học liệu yêu cầu
• Tập Bản đồ Du lịch – Travel Atlas, NXB Tài nguyên Môi trường
và Bản đồ Việt Nam.
• Tập Bản đồ Giao thông đường bộ Việt Nam, NXB Bản đồ (ấn phẩm mới nhất).
3) Học liệu do giảng viên cung cấp
• Các chủ đề, chuyên đề thuyết minh theo hành trình.
• Bản đồ hành trình theo cung đường (UTM 1:50.000, bản chiếu).
4) Tài liệu tham khảo chung
• Địa lý tự nhiên Việt Nam.
• Phân vùng văn hóa Việt Nam.
• Địa phương chí.
5) Tài liệu khác
• Tài liệu tham khảo cụ thể theo nội dung, chủ đề, chuyên đề,
v.v… (bản in giấy hay thông tin điện tử) sẽ được giảng viên cung cấp trên lớp.
B. Các chuyên đề trong tuyến điểm Tây Nguyên
1. Địa lý tự nhiên
a) Miền tự nhiên Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
b) Phân vùng khí hậu: Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ, Nam
Bộ.
c) Phân vùng địa sinh thái dãy Trường Sơn.
2. Nhân văn
2.1. Vùng văn hóa Nam Bộ, phân vùng Đông Nam Bộ
2.2. Vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên
2.3. Văn hóa khảo cổ Đồng Nai
2.4. Lịch sử:
a) Chiến tranh Việt Nam (1972, 1975).
b) Đường mòn Hồ Chí Minh.
C. Các tuyến hành trình trên tuyến điểm Tây Nguyên
1) Đoạn tuyến Sài Gòn - Buôn Ma Thuột.
2) Đoạn tuyến Buôn Ma Thuột - Đà Nẵng.
3) Đoạn tuyến Sài Gòn - Đà Lạt.
4) Các đoạn tuyến duyên hải Trung Bộ - Tây Nguyên.
Nhãn:
Tây Nguyên,
Thuyết minh du lịch,
Tuyến điểm
Du lịch là hỗn hợp của các hiện tượng và những mối quan hệ
Trước thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, du lịch hầu như được coi
là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quí tộc và người ta chỉ coi đây như là một
hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ này, người ta
coi du lịch như một hiện tượng xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống và
nhận thức con người[1].
Walter Hunziker và Kurt Krapf (Thụy Sĩ) là hai trong số
những người tiên phong nghiên cứu về khoa học du lịch đã rút ra bản chất của du
lịch là gồm cả hoạt động của con người lẫn kinh tế. Trong lý thuyết chung về du
lịch được công bố năm 1942, các tác giả đã đưa ra khái niệm được xem là lâu đời
nhất được nhiều người nhìn nhận, đó là:
(D1) “Toàn bộ các mối
quan hệ và hiện tượng liên quan đến việc lưu trú của người ngoại quốc tại một
địa phương với điều kiện là họ không học chuyên tu, không tham gia hoạt động có
nhận thù lao dù lâu dài hay tạm thời” (“The
totality of relationships and phenomena linked with the stay of foreigners in a
locality provided they do not exercise a major, permanent or temporary
remunerated activity” [2];
Nguồn khác: “being a
sum of relations and phenomena resulting from travel and stay of non–residents,
in so far a stay does not lead to permanent residence and is not connected with
any permanent or temporary earning activity” [3])
Bản dịch của Trần Thị Thúy Lan và Nguyễn Đình Quang [4] “là
tổng hợp các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của
người ngoài địa phương – những người không có mục đích định cư và không liên
quan đến bất cứ hoạt động kiếm tiền nào”
Hunziker và Krapf xem du lịch như là hiện tượng phức hợp gồm
phạm vi toàn bộ các mối quan hệ khác nhau giữa du khách và dân cư địa phương.
Dù đưa ra được ý niệm bản chất của du lịch có liên quan đến xã hội nhưng về
quan điểm kỹ thuật thì định nghĩa này còn thiếu sót, như:
§
Chỉ đặt trọng tâm trên việc sử dụng các cơ sở
lưu trú như là thành phần cần thiết của ngành du lịch mà không chú trọng đến
các yếu tố khác như vận chuyển, cung cấp dịch vụ … nhất là các doanh nghiệp giữ
nhiệm vụ trung gian: tổ chức du lịch, sản xuất sản phẩm du lịch …
§
Đối tượng chủ thể là du khách chỉ được xác định
là người ngoại quốc – nói cách khác là du lịch nội địa đã bị loại trừ hoàn
toàn.
§
Không tính đến việc du lịch thương mại, công vụ.
§
Việc nằm bệnh viện đơn thuần[5]
cũng có thể được gán ghép là “đi du lịch” !
Cũng về khía cạnh kỹ thuật, chỉ duy nhất ở định nghĩa này là
ta có thể loại bỏ hình thức “du học” ra khỏi khái niệm du lịch. Nói như vậy
không có nghĩa là du học sinh hoàn toàn không có tham gia vào lĩnh vực du lịch,
ví như cá nhân du học sinh hay cùng đồng môn lữ hành đâu đó ngoài giờ học. Về
khía cạnh thống kê kinh tế – du lịch, dù rằng hoạt động lữ hành này có đóng góp
cho nền kinh tế tại quốc gia du học nhưng có đáng kể để đưa giới du học sinh
vào biểu thống kê chính thức hay du học – du lịch có là một loại hình du lịch
đặc thù? Việc phân tích xa hơn nữa mối quan hệ giữa “du học” và “du học sinh”
với hoạt động du lịch để có thể đánh giá, định nghĩa về khái niệm du lịch là
vấn đề không dễ dàng.
Tuy nhiên công trình của các tác giả Thụy Sĩ là nền tảng cho
việc xây dựng nhiều định nghĩa du lịch sau đó. Cách tiếp cận của này đã được
Burkart và Medlik khai triển thêm vào năm 1974. Hai ông đề xuất nên phân biệt
giữa khái niệm và các khía cạnh kỹ thuật trong các định nghĩa du lịch. Theo đó,
du lịch có năm đặc điểm (điều này vẫn còn được áp dụng đến ngày nay)[6]:
1. Du
lịch là hỗn hợp của những hiện tượng và các mối quan hệ hơn là chỉ một thành
tố.
2. Những
hiện tượng và các mối quan hệ này phát sinh từ sự vận động của con người đi đến
và lưu trú tại nhiều nơi đến khác nhau; có một yếu tố động (cuộc hành trình) và
một yếu tố tĩnh (việc lưu trú).
3. Cuộc
hành trình đến và lưu trú tại địa phương là nơi không phải chổ ở và chổ làm
việc thường xuyên, để rồi du lịch tạo ra những
hoạt động đặc thù khác biệt với những
hoạt động bình thường của cộng đồng cư dân sở tại.
4. Việc
lưu trú mang đặc tính tạm thời, ngắn hạn.
5. Nơi
đến không phải là nơi làm việc được trả lương.
Năm 1981, Burkart và Medlik đưa ra định nghĩa du lịch là:
(D2) “hiện tượng phát sinh từ các chuyến thăm
tạm thời (hoặc lưu trú xa nhà) ngoài nơi cư ngụ bình thường cho bất kỳ lý do
nào mà không phải là làm việc để nhận thù lao tại nơi đến thăm” (“the phenomenon arising from temporary visits
(or staying away from home) outside the normal place of residence for any
reason other than following an occupation remunerated from within the place
visited” [7]).
Ở định nghĩa này, nếu mục đích lữ hành và lưu trú tại nơi
đến không phải để làm việc được trả lương thì tất cả các mục đích khác đều là
du lịch? Nếu nhìn ở khía cạnh tích cực thì điều này cho phép nhiều loại hình du
lịch được bao hàm (du lịch y tế, du lịch MICE, …) nhưng cũng có những điểm yếu
nhất định. Ví dụ những người đi đến một nơi xa để thăm viếng và lưu trú lại để
chăm sóc người thân (bị bệnh chẳng hạn) có được xem là đi du lịch? Cũng cần
thận trọng lưu ý cách sử dụng từ ngữ ở đây. Trường hợp ở ví dụ này, những người
đi thăm viếng đó nên được gọi là lữ khách (traveler)
và nếu được thống kê thì xếp vào loại hình kinh tế lữ hành (travel)[8].
Lữ hành với du lịch, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Nhưng ở đây là đang bàn
về khái niệm du lịch – tourism chứ
không phải lữ hành – travel.
Cũng từ công trình nghiên cứu của Walter Hunziker và Kurt
Krapf, đại hội thường niên năm 1981 ở Cardiff (Wales, Anh Quốc) của Hiệp hội
Quốc tế các Chuyên gia về Du lịch học – AIEST (Association Internationale
d’Experts Scientifiques du Tourisme), theo đề xuất của Kaspar, xác định du lịch
là:
(D3) “Tổng thể các mối tương quan và hiện tượng
phát sinh từ việc người ta đi đến, dừng lại tại nơi không phải để định cư cũng
không phải để làm việc; với mục đích là giải trí, hoặc giải quyết công việc hay
nghiên cứu học tập” (The entirety of
interrelations and phenomena which result from people traveling to, and
stopping at places which are neither their main continuous domiciles nor place
of work either for leisure or in the context of business activities or study
[9]).
Định nghĩa này không khẳng định việc phải lưu trú qua đêm
hoặc tham quan ở nước ngoài và do vậy chấp nhận du lịch nội địa là tồn tại. Mặt
khác, bên cạnh mục đích giải trí, định nghĩa đã chấp nhận các hình thức du lịch
mới như MICE chẳng hạn.
Định nghĩa của các học giả Trung Quốc cũng đồng quan điểm
nhưng có đưa thêm điều kiện nảy sinh hoạt động du lịch vào trong định nghĩa:
(D4) “Du lịch là một
hiện tượng kinh tế xã hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, là
sự tổng hòa tất cả các mối quan hệ và hiện tượng do việc lữ hành và lưu trú tạm
thời dẫn tới, mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hóa”[10]
Theo đó, du lịch có thể được xem là giúp con người giải
quyết những nhu cầu tâm, sinh lý khác với nhu cầu tối thiểu để con người tồn
tại.
Một định nghĩa khác cũng từ Trung Quốc : “Du lịch là tổng hòa hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn
tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch,
khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện”[11].
Định nghĩa này nhấn mạnh các khía cạnh kỹ thuật mang đậm tính du lịch, nhưng đi
sâu vào từng khía cạnh thì có thể tạo ra thêm những tranh luận theo hướng xa vời
hoặc quá rộng với vấn đề chính ở đây.
Neil Leiper (1979) đã đề ra một định nghĩa khác phù hợp với
bốn trong số năm đặc điểm của du lịch do Burkart và Medlik đề xướng nhưng ông không
dừng lại ở khái niệm hỗn hợp, mà ông cho rằng “du lịch là một hệ thống bao gồm đến việc đi lại tùy thích và việc
lưu trú tạm thời của những người đi xa khỏi nơi thường trú từ một đêm trở lên,
ngoại trừ những chuyến đi có mục địch chính là kiếm tiền từ những địa điểm trên
hành trình (It is the system
involving the discretionary travel and temporary stay of persons away from
their usual place of residence for one or more nights, excepting tours made for
the primary purpose of earning remuneration from points en route.) Hệ thống
này gồm năm yếu tố được sắp xếp trong các kết nối không gian và chức năng, đó là:
du khách, nơi xuất phát, tuyến hành trình, nơi đến, và ngành công nghiệp du
lịch. Có các đặc tính của một hệ thống mở, tổ chức của năm yếu tố này vận hành trong
môi trường rộng lớn hơn mà nó tương tác: tự nhiên, văn hóa, xã hội, kinh tế,
chính trị, kỹ thuật công nghệ[12].
[1] Trần Thị
Thúy Lan (2005: 8–9) và Nguyễn Đình Quang, Giáo
trình tổng quan du lịch, Hà Nội: Nxb Hà Nội.
[2] Gilbert
D.C., Conceptual issues in the meaning of
Tourism. Nguồn: Cooper C.P. (biên tập, 1990: 4–27), Progress in Tourism, Recreation and Hospitality Management, Vol.2, London:
Belhaven; được dẫn lại bởi Stephen Williams (biên tập, 2004: 50–52), Tourism: Critical Concepts in the Social
Science, volume 1: The nature and
structure of tourism, London:
Routledge.
[3] Norbert
Vanhove (2005:2), The economics of
tourism destination, Oxford:
Elsevier Butterworth Helnemann.
[4] Trần Thị
Thúy Lan (2005:9)
[5] Là nằm
viện bởi bệnh tật, tai nạn chứ không phải hình thức du lịch kết hợp chữa bệnh.
[6] Norbert
Vanhove (2005:2)
[7] Karan
Raj (2002:357), Modern Dictionary Of
Tourism, Dehli: IVY PUBLISHING HOUSE.
[8] Lưu ý có
một số tác giả dùng chữ “du lịch” để dịch nghĩa cho travel và ngược lại. Điều này có thể đúng trong những trường hợp
nào đó nhưng ở đây thì không. Từ điển Oxford
định nghĩa cho “travel (verb) to go from
one place to another, especially over a long distance; to go or move at a
particular speed, in a particular direction, or a particular distance”.
[9] Norbert
Vanhove (2005:2)
[10] Đổng
Ngọc Minh (2001:13) và Vương Lôi Đình (chủ biên), Kinh tế du lịch và Du lịch học, Nguyễn Xuân Quý dịch, Cao Tự Thanh
hiệu đính, Tp.Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ (bản dịch và hiệu đính có rất nhiều lỗi).
[11] Trần
Văn Thông (2002:21), Tổng quan Du lịch,
Tp.HCM: ĐH Văn Lang lưu hành nội bộ.
[12] Nell
Lelper (1979:403–404), The framework of Tourism:
Towards a Definition of Tourism, Tourist, and the Tourist Industry, Annals
of Tourism Research – Oct 1979.
Nhãn:
Du lịch học,
định nghĩa du lịch
Định nghĩa Du lịch
A."Du lịch”
Khi nhắc đến “du lịch”, người ta thường nghĩ ngay đến những
hoạt động của con người đi đến một nơi nào đó để ngoạn cảnh, nghỉ ngơi, vui
chơi.
Ở tài liệu này, một số thuật ngữ được dùng như sau:
§ Du lịch (tourism) khi chỉ ngành kinh tế công
nghiệp du lịch, việc nghiên cứu khoa học du lịch thì dùng với nghĩa bao gồm cả ngành
lữ hành (travel) và ngành phục vụ (hospitality).
§ Lữ hành (travel) ở đây được hiểu là một hoạt
động, là bất kỳ chuyến đi nào của con người đi từ nơi này đến nơi khác, không
kể xa hay gần, để làm việc hay tiêu khiển hoặc kết hợp cho nhiều mục đích khác
nhau, bằng bất cứ phương tiện vận tải thủy, bộ hay trên không. Khách lữ hành
(traveler) gồm cả khách du lịch, commuter
(những lữ khách đi lại mỗi ngày để làm việc), nhà ngoại giao, dân di trú (những
người làm công đến lưu trú ít hơn một năm), du mục, tị nạn, cũng như những lữ
khách khác (không lẫn lộn với lữ hành theo luật DL
Việt Nam).
§ Khách (visitor) dùng chung cho: du khách hay
khách du lịch (tourist), khách tham quan (excursionist, same-day visitor) và lữ
khách (traveler). Thuật ngữ này được dùng trong thống kê du lịch, khác với hành
khách (passenger) được dùng trong thống kê của ngành vận tải.
1) Từ “du lịch” trong ngôn ngữ Việt Nam và Trung Quốc
§
Từ “du lịch” trong tiếng Việt có nguồn gốc từ Hán
– Việt; “du” có nghĩa là đi chơi; “lịch” có nghĩa là sự từng trãi, thấy nhiều,
biết nhiều.
§
Trung Quốc gọi du lịch là “quang quang” hay “lữ
du” do rút gọn từ “lữ hành du lãm” nghĩa là chuyến đi chơi đến nơi có phong
cảnh đẹp.
2) Từ “tour” trong ngôn ngữ Tây phương
Từ “tour” được du nhập vào tiếng Anh khoảng giữa thế kỷ XVII
từ tiếng Pháp cổ là “turn”; từ này nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “tornos” và được Latin
hóa là “tornare”, có nghĩa là dụng cụ tiện hay vòng tròn; sự chuyển động quanh
một tâm hoặc trục. Trong tiếng Anh hiện đại:
§“tour” có nghĩa là hành trình đi về để vui chơi,
nghỉ ngơi, kinh doanh, trình diễn …
§
“tourism” để chỉ các hoạt động lữ hành để vui
thú và cũng chỉ ngành kinh doanh cung cấp chổ ở, dịch vụ và giải trí cho lữ
khách.
Như vậy có thể nói, ý nghĩa của “du lịch” là:
§
do nhiều mục đích khác nhau mà người ta đi đến
một nơi nào đó rồi quay về;
§
những mục đích này không phải để giải quyết
những nhu cầu hằng ngày như đi làm việc, đi học, đi chợ, đi ăn ngoài, đi dạo
phố …
B. Bốn quan điểm nhìn nhận du lịch
1) Du khách
2) Ngành kinh doanh cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho du khách
3) Chính quyền địa phương (The government of the host community)
4) Cộng đồng cư dân địa phương (The host community)
C. Định nghĩa du lịch
1) Du lịch là hỗn hợp của các hiện tượng và những mối quan hệ
2) Du lịch là một hoạt động đặc thù
3) Nhìn nhận du lịch từ các khía cạnh kỹ thuật
4) Du lịch là một hoạt động kinh tế
5) Định nghĩa nhìn từ yếu tố “cầu”6) Định nghĩa nhìn từ yếu tố “cung”
Nhãn:
Du lịch học,
định nghĩa du lịch
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)