Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

Du lịch là một hoạt động đặc thù


Du lịch thường được miêu tả chỉ đơn thuần là một hoạt động. Năm 1979, Hiệp hội Du lịch Anh quốc dựa trên công trình của Burkart và Medlik (1974) để định nghĩa:

(D5) “Du lịch là bao gồm bất kỳ hoạt động có liên quan đến sự di chuyển tạm thời và ngắn hạn của con người đến những địa điểm ngoài nơi họ thường sống và làm việc, và những hoạt động của họ trong thời gian lưu trú tại các nơi đến này” (Tourism is deemed to include any activity concerned with the temporary short–term movement of people to destinations outside the places where they normally live and work, and their activities during the stay at these destinations [1]).

Có thể thấy ở đây, du lịch bao gồm hai hoạt động chính là lữ hành và những hoạt động khác tại nơi đến bao gồm cả giải quyết công việc và lưu trú nhưng mang tính chất tạm thời và ngắn hạn. Nhưng như thế nào là ngắn hạn? Theo Mill và Morrison (1982) thì:

(D6) “Du lịch là một hoạt động. Trong điều kiện quốc tế, xảy ra con khi con người vượt biên giới nhằm mục đích giải trí hoặc giải quyết công việc và lưu trú ít nhất 24 giờ nhưng quá một năm” (Tourism is an activity. It is an activity that takes place when, in international terms, people cross borders for leisure or business and stay at least 24 hours but less than one year [2]).

Ở đây thì có thể thấy định nghĩa du lịch đang dần hướng về khía cạnh kỹ thuật chứ không đơn thuần là khái niệm nữa rồi. Tuy vậy, yếu tố kỹ thuật “ít nhất 24 giờ” đã loại bỏ loại hình du lịch tàu biển vốn là loại hình có mức tăng trưởng nhanh nhất trong ngành du lịch[3]. Tại Việt Nam đối tượng khách tàu biển là những người có mức chi tiêu cao, bình quân 300 - 400 USD/ngày/khách, cao hơn từ 20 đến 30% so với những đối tượng du khách đến Việt Nam bằng đường hàng không, đường bộ[4].

Đến 1992 thì Mill và Morrison nêu rằng: “Tourism is the term given to the activity that occurs when people travel. This encompasses everything from the planning of the trip, the travel to the destination area, the stay itself, the return and the reminiscences about it afterward. It includes the activities the traveller undertakes as part of the trip, the purchases made, and the interactions that occur between host and guest in the destination area. In sum it is all of the activities and impacts that occur when a visitor travels.” (Mill & Morrison (l992: 9) {Sinh viên phân tích và thảo luận định nghĩa này}.

Định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới – WTO/UNWTO (World Tourism Oganization) được chấp nhận rộng rãi nhất trên thế giới. Tại Hội nghị quốc tế về Lữ hành và Thống kê Du lịch ở Ottawa – Canada, tháng Sáu năm 1991, định nghĩa du lịch là:

(D7) “Các hoạt động của người ta bên ngoài môi trường bình thường của họ trong thời gian ít hơn khoảng thời gian đã định và mục đích chính của chuyến lữ hành không phải để làm việc để nhận thù lao trong phạm vi vùng tới thăm” (The activities of a person outside his or her usual environment for less than a specified period of time and whose main purpose of travel is other than exercise of an activity remunerated from the place visited [5])



[1] Gillbert.
[2] Nguồn: Lesley Pender và Richard Sharpley (biên tập, 2005:4), The Management of Tourism, London: SAGE Publications Ltd.
[3] V. Lê, Du lịch tàu biển - hướng trọng tâm của du lịch Việt Nam, bài đăng trên báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngày 22/12/2009.
[4] Bài báo Lượng khách du lịch tàu biển tăng mạnh đăng trên website www.saigon-tourist.com, không rõ tác giả và không rõ nguồn thông tin là của Thời báo kinh tế hay của Nhân dân.
[5] Nguồn: Lesley Pender và Richard Sharpley (2005:4), dẫn lại từ Chadwick, R. (1994) Concepts, definitions and measures used in travel and tourism research, trong J.R.B. Ritchie and C.R. Goeldner (eds), Travel Tourism and Hospitality Research: A Handbook for Managers and Researchers (2nd edition: 65–80), New York: John Wiley and Sons.

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

Tuyến điểm du lịch Tây Nguyên: Sài Gòn - Buôn Ma Thuột (2)

(tiếp theo)


3. Bình Phước
Tuyến đường bộ qua các huyện: Chơn Thành, Đồng Xoài, Đồng Phú, Bù Đăng.
Trung tâm hành chánh : Chơn Thành, Đồng Xoài, Đức Phong.
Tra cứu thông tin:
• Cổng thông tin điện tử tỉnh Bình Phước www.binhphuoc.gov.vn
• Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước vhttdlbinhphuoc.gov.vn
• Báo Bình Phước điện tử baobinhphuoc.com.vn
• Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai và văn hóa khảo cổ Cát Tiên (www.namcattien.vn)
3.1.       Chủ đề khai thác
Chủ đề 1 : Bình Phước
1.      5 yếu tố trãi nghiệm du lịch.
2.      Bình Long, Phước Long.
3.      Dân tộc S’Tiêng.
4.      Cây điều.
5.      Cây hồ tiêu.

Chủ đề 2 : Đồng Xoài
1.      5 yếu tố trãi nghiệm du lịch.
2.      Lịch sử: chiến trận Đồng Xoài; chiến dịch Đường 14 – Phước Long.

Chủ đề 3 : Cát Tiên
1.      Đa dạng sinh học tại Cát Tiên.
2.      Di tích khảo cổ Cát Tiên.
3.2.       Các nội dung mở rộng:
a.       Chùa Thanh Tâm tại Đồng Phú.
b.      Dân tộc Kh’mer ở Bình Phước.
c.       Du lịch núi Bà Rá.
d.      Hoàng thân Souphanouvong.
e.       Nhím Bù Đăng.
f.       Quận 3 Nha Bích.
g.      Sóc Bom Bo.
h.      Tàu Ô.
i.        Tống Lê Chân.
j.        Trảng cỏ Bù Lạch.

4. Đắc Nông
Tuyến đường bộ qua các huyện: Tuy Đức, Gia Nghĩa, Đắc Song, Đắc Min, Cư Jút.
Trung tâm hành chánh : Kiến Đức, Gia Nghĩa, Đắc Song, Đắc Min, Ea T’Ling.
Tra cứu thông tin:
• Cổng thông tin điện tử tỉnh Đắc Nông www.daknong.gov.vn
• Đài phát thanh và truyền hình tỉnh Đắc Nông ptthdaknong.com.vn
• Báo Đắc Nông điện tử www.baodaknong.org.vn
4.1.       Chủ đề khai thác
Chủ đề 4 : Đắc Nông
1.      Đắc Nông: 5 yếu tố trãi nghiệm du lịch.
2.      Gia Nghĩa: 5 yếu tố trãi nghiệm du lịch.
3.      Dân tộc M’Nông.
4.      Bô-xít Tây Nguyên.

Chủ đề 5 : Thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh
1.      Phong trào TNXH sau 1975.
2.      Tác phẩm “Ngọc Trong Đá”.
3.      Nhạc phẩm: Hoàng hôn màu lá.

Chủ đề 6 : Đà đá Tây Nguyên
1.      Đàn đá Dak Kar.
2.      Đàn đá Việt Nam.
3.      Đàn đá, âm nhạc Tây Nguyên và cồng chiên.
4.2.       Các nội dung mở rộng:
a.       Buôn cổ Buôr.
b.      Các sắc dân thượng du thiểu số phi bản địa tại Tây Nguyên.
c.       Chuyện kể về Nâm Nung.
d.      Chuyện nàng H’mi.
e.       Chuyện nàng H’quing.
f.       Cơn bão phá rừng từ dân di cư tự do đến Tây Nguyên.
g.      Du lịch Nâm Nung.
h.      N’Trang Gưh.
i.        N’Trang Lơng.
j.        Ót N’Đ’Rông.
k.      Sông Sê-rê-pốc.
l.        Thác Đ’Rây Sáp.
m.    Thác Liêng Nung.
n.      Trận đánh Đức Lập.
5. Đắc Lắc
Tuyến đường bộ qua các huyện: Buôn Ma Thuột, Cư M’Ga, K’Rông Búc, Ea H’Leo.
Trung tâm hành chánh : Buôn Ma Thuột, Buôn Đôn, Liên Sơn.
Tra cứu thông tin:
• Cổng thông tin điện tử tỉnh Đắc Lắc portal.daklak.gov.vn
• Báo Đắc Lắc điện tử baodaklak.vn
5.1.       Chủ đề khai thác
Chủ đề 7 : Đắc Lắc (4 đề mục)
Chủ đề 8 : Buôn Ma Thuột (4 đề mục).
Chủ đề 9 : Bản đôn (5 đề mục).
Chủ đề 10 : Cà phê (7 đề mục)
Chủ đề 11 : Hồ Lắc (3 đề mục).
5.2.       Các nội dung mở rộng:
a.       Câu chuyện nàng H’Lăm và chàng Y Đ’Hin.
b.      Câu chuyện săn cá trên dòng Sê-rê-pốc.
c.       Cây Kơ–nia.
d.      Chăm-pa tại Tây Nguyên.
e.       Làng Hòa Phú – Thọ Thành.
f.       Nhạc phẩm Bay lên Chư Quin.
g.      Rượu cần của người M’nông.
h.      Thác Đ’ray H’ling.
i.        Văn hóa hòa hợp Ê’đê và M’nông.
j.        Y Jut H’Wing.

Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013

Tuyến điểm du lịch Tây Nguyên: Sài Gòn - Buôn Ma Thuột (1)



Đoạn tuyến Sài Gòn - Buôn Ma Thuột

Tuyến hành trình             : TP.HCM – Bình Dương – Buôn Ma Thuột.
Cụm tuyến chính             : Sê-rê-pốc (2523), trục giao thông Quốc lộ 14.
Cụm tuyến phụ                : Gia Định (3625); Sông Bé (3626), trục giao thông Quốc lộ 13.
Địa phương chí:
1. Thành phố Hồ Chí Minh
Tuyến đường bộ theo trục xuyên tâm đi phía bắc Sài Gòn. Đi qua các quận I, III, Bình Thạnh, XII.
* Chủ đề khai thác
1.      Thị Nghè (4 đề mục).
2.      Hàng Sanh (5 đề mục).
3.      Thủ Đức (4 đề mục).
* Các nội dung mở rộng:
a.       Đường Thiên lý.
b.      Quốc lộ 1 đoạn qua Gia Định – Sài Gòn và quốc lộ 1A ngày nay.
c.       Tứ đại hào phú Sài Gòn xưa.
d.      Chuyện nàng Hai Bến Nghé.
e.       Chuyện kể về Hoàng Cô và chùa Từ Ân.
f.       Phạm Duy, nhạc phẩm “Trả Lại Em Yêu”.
g.      Nền giáo dục xưa.
h.      Lịch sử truyền hình Việt Nam.
i.        Đồng Ông Cộ.
j.        Cầu Sơn.
k.      Tuyến hỏa xa Xuyên Việt.
l.        Trung tâm hành hương Fatima Bình Triệu.
m.    Địa danh Sài Gòn, miền Nam.
n.      Địa danh “con đường máu”.
o.      Xa lộ vành đai.
p.      Chợ Tam Bình.
q.      Đồng chó ngáp, rừng Cò Mi.
2. Bình Dương
Tuyến đường bộ qua các huyện: Thuận An, Thủ Dầu Một, Bến Cát.
Trung tâm hành chánh : Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Mỹ Phước.
Tra cứu thông tin:
• Trang tin điện tử tỉnh Bình Dương www.binhduong.gov.vn
• Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương www.sugia.vn
• Báo Bình Dương Online baobinhduong.org.vn
* Chủ đề khai thác
4.      Bình Dương (4 đề mục).
5.      Lái Thiêu (4 đề mục).
6.      Gốm Bình Dương (3 đề mục).
7.      Ẩm thực Bình Dương (3 đề mục).
8.      Búng (3 đề mục).
9.      Thủ Dầu Một (8 đề mục).
10.  Tương Bình Hiệp (4 đề mục).
11.  Tha La (3 đề mục).
12.  Cao su (2 đề mục).
*    Các nội dung mở rộng:
a.       Mặt trận cầu Vĩnh Bình 1975.
b.      Đình Phú Long.
c.       Tuyến hỏa xa Sài Gòn – (Dĩ An –) Lộc Ninh.
d.      Ông Ngô Đình Diệm.
e.       Làng kháng chiến Bình Hòa.
f.       Họ đạo Gò.
g.      Lò chén Chòm Sao.
h.      Rừng Cò Mi và chiến khu Thuận – An – Hòa.
i.        Môn phái võ Tân Khánh – Bà Trà.
j.        Guốc mộc Việt Nam.
k.      Nhà tù Phú Lợi.
l.        Nhà văn Sơn Nam.
m.    Lò lu Đại Hưng.
n.      Địa đạo Tam giác sắt tây nam Bến Cát.
o.      Địa danh tiền tố ‘Bến’.
p.      Trâu và sữa trâu.
q.      Trừ Văn Thố.

Tuyến điểm du lịch Tây nguyên (0)



A. Học liệu đối với nội dung Tuyến điểm
1) Học liệu bắt buộc
• Bản đồ Du lịch Việt Nam, NXB Bản đồ (ấn phẩm mới nhất).
• Non nước Việt Nam, Tổng cục Du lịch (ấn phẩm mới nhất).
2) Học liệu yêu cầu
• Tập Bản đồ Du lịch – Travel Atlas, NXB Tài nguyên Môi trường và Bản đồ Việt Nam.
• Tập Bản đồ Giao thông đường bộ Việt Nam, NXB Bản đồ (ấn phẩm mới nhất).
3) Học liệu do giảng viên cung cấp
• Các chủ đề, chuyên đề thuyết minh theo hành trình.
• Bản đồ hành trình theo cung đường (UTM 1:50.000, bản chiếu).
4) Tài liệu tham khảo chung
• Địa lý tự nhiên Việt Nam.
• Phân vùng văn hóa Việt Nam.
• Địa phương chí.
5) Tài liệu khác
• Tài liệu tham khảo cụ thể theo nội dung, chủ đề, chuyên đề, v.v… (bản in giấy hay thông tin điện tử) sẽ được giảng viên cung cấp trên lớp.


B. Các chuyên đề trong tuyến điểm Tây Nguyên

1. Địa lý tự nhiên
a) Miền tự nhiên Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
b) Phân vùng khí hậu: Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ, Nam Bộ.
c) Phân vùng địa sinh thái dãy Trường Sơn.
2. Nhân văn
2.1.       Vùng văn hóa Nam Bộ, phân vùng Đông Nam Bộ
2.2.       Vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên
2.3.       Văn hóa khảo cổ Đồng Nai
2.4.       Lịch sử:
a) Chiến tranh Việt Nam (1972, 1975). 
b) Đường mòn Hồ Chí Minh.


C. Các tuyến hành trình trên tuyến điểm Tây Nguyên

1) Đoạn tuyến Sài Gòn - Buôn Ma Thuột.
2) Đoạn tuyến Buôn Ma Thuột - Đà Nẵng.
3) Đoạn tuyến Sài Gòn - Đà Lạt.
4) Các đoạn tuyến duyên hải Trung Bộ - Tây Nguyên.

Du lịch là hỗn hợp của các hiện tượng và những mối quan hệ



Trước thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, du lịch hầu như được coi là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quí tộc và người ta chỉ coi đây như là một hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ này, người ta coi du lịch như một hiện tượng xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống và nhận thức con người[1].
Walter Hunziker và Kurt Krapf (Thụy Sĩ) là hai trong số những người tiên phong nghiên cứu về khoa học du lịch đã rút ra bản chất của du lịch là gồm cả hoạt động của con người lẫn kinh tế. Trong lý thuyết chung về du lịch được công bố năm 1942, các tác giả đã đưa ra khái niệm được xem là lâu đời nhất được nhiều người nhìn nhận, đó là:
(D1) “Toàn bộ các mối quan hệ và hiện tượng liên quan đến việc lưu trú của người ngoại quốc tại một địa phương với điều kiện là họ không học chuyên tu, không tham gia hoạt động có nhận thù lao dù lâu dài hay tạm thời” (“The totality of relationships and phenomena linked with the stay of foreigners in a locality provided they do not exercise a major, permanent or temporary remunerated activity” [2];
Nguồn khác: “being a sum of relations and phenomena resulting from travel and stay of non–residents, in so far a stay does not lead to permanent residence and is not connected with any permanent or temporary earning activity” [3])
Bản dịch của Trần Thị Thúy Lan và Nguyễn Đình Quang [4] “là tổng hợp các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của người ngoài địa phương – những người không có mục đích định cư và không liên quan đến bất cứ hoạt động kiếm tiền nào”
Hunziker và Krapf xem du lịch như là hiện tượng phức hợp gồm phạm vi toàn bộ các mối quan hệ khác nhau giữa du khách và dân cư địa phương. Dù đưa ra được ý niệm bản chất của du lịch có liên quan đến xã hội nhưng về quan điểm kỹ thuật thì định nghĩa này còn thiếu sót, như:
§        Chỉ đặt trọng tâm trên việc sử dụng các cơ sở lưu trú như là thành phần cần thiết của ngành du lịch mà không chú trọng đến các yếu tố khác như vận chuyển, cung cấp dịch vụ … nhất là các doanh nghiệp giữ nhiệm vụ trung gian: tổ chức du lịch, sản xuất sản phẩm du lịch …
§        Đối tượng chủ thể là du khách chỉ được xác định là người ngoại quốc – nói cách khác là du lịch nội địa đã bị loại trừ hoàn toàn.
§        Không tính đến việc du lịch thương mại, công vụ.
§        Việc nằm bệnh viện đơn thuần[5] cũng có thể được gán ghép là “đi du lịch” !
Cũng về khía cạnh kỹ thuật, chỉ duy nhất ở định nghĩa này là ta có thể loại bỏ hình thức “du học” ra khỏi khái niệm du lịch. Nói như vậy không có nghĩa là du học sinh hoàn toàn không có tham gia vào lĩnh vực du lịch, ví như cá nhân du học sinh hay cùng đồng môn lữ hành đâu đó ngoài giờ học. Về khía cạnh thống kê kinh tế – du lịch, dù rằng hoạt động lữ hành này có đóng góp cho nền kinh tế tại quốc gia du học nhưng có đáng kể để đưa giới du học sinh vào biểu thống kê chính thức hay du học – du lịch có là một loại hình du lịch đặc thù? Việc phân tích xa hơn nữa mối quan hệ giữa “du học” và “du học sinh” với hoạt động du lịch để có thể đánh giá, định nghĩa về khái niệm du lịch là vấn đề không dễ dàng.
Tuy nhiên công trình của các tác giả Thụy Sĩ là nền tảng cho việc xây dựng nhiều định nghĩa du lịch sau đó. Cách tiếp cận của này đã được Burkart và Medlik khai triển thêm vào năm 1974. Hai ông đề xuất nên phân biệt giữa khái niệm và các khía cạnh kỹ thuật trong các định nghĩa du lịch. Theo đó, du lịch có năm đặc điểm (điều này vẫn còn được áp dụng đến ngày nay)[6]:
1.      Du lịch là hỗn hợp của những hiện tượng và các mối quan hệ hơn là chỉ một thành tố.
2.      Những hiện tượng và các mối quan hệ này phát sinh từ sự vận động của con người đi đến và lưu trú tại nhiều nơi đến khác nhau; có một yếu tố động (cuộc hành trình) và một yếu tố tĩnh (việc lưu trú).
3.      Cuộc hành trình đến và lưu trú tại địa phương là nơi không phải chổ ở và chổ làm việc thường xuyên, để rồi du lịch tạo ra những hoạt động đặc thù khác biệt với những hoạt động bình thường của cộng đồng cư dân sở tại.
4.      Việc lưu trú mang đặc tính tạm thời, ngắn hạn.
5.      Nơi đến không phải là nơi làm việc được trả lương.
Năm 1981, Burkart và Medlik đưa ra định nghĩa du lịch là:
(D2) “hiện tượng phát sinh từ các chuyến thăm tạm thời (hoặc lưu trú xa nhà) ngoài nơi cư ngụ bình thường cho bất kỳ lý do nào mà không phải là làm việc để nhận thù lao tại nơi đến thăm” (“the phenomenon arising from temporary visits (or staying away from home) outside the normal place of residence for any reason other than following an occupation remunerated from within the place visited” [7]).
Ở định nghĩa này, nếu mục đích lữ hành và lưu trú tại nơi đến không phải để làm việc được trả lương thì tất cả các mục đích khác đều là du lịch? Nếu nhìn ở khía cạnh tích cực thì điều này cho phép nhiều loại hình du lịch được bao hàm (du lịch y tế, du lịch MICE, …) nhưng cũng có những điểm yếu nhất định. Ví dụ những người đi đến một nơi xa để thăm viếng và lưu trú lại để chăm sóc người thân (bị bệnh chẳng hạn) có được xem là đi du lịch? Cũng cần thận trọng lưu ý cách sử dụng từ ngữ ở đây. Trường hợp ở ví dụ này, những người đi thăm viếng đó nên được gọi là lữ khách (traveler) và nếu được thống kê thì xếp vào loại hình kinh tế lữ hành (travel)[8]. Lữ hành với du lịch, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Nhưng ở đây là đang bàn về khái niệm du lịch – tourism chứ không phải lữ hành – travel.
Cũng từ công trình nghiên cứu của Walter Hunziker và Kurt Krapf, đại hội thường niên năm 1981 ở Cardiff (Wales, Anh Quốc) của Hiệp hội Quốc tế các Chuyên gia về Du lịch học – AIEST (Association Internationale d’Experts Scientifiques du Tourisme), theo đề xuất của Kaspar, xác định du lịch là:
(D3) “Tổng thể các mối tương quan và hiện tượng phát sinh từ việc người ta đi đến, dừng lại tại nơi không phải để định cư cũng không phải để làm việc; với mục đích là giải trí, hoặc giải quyết công việc hay nghiên cứu học tập” (The entirety of interrelations and phenomena which result from people traveling to, and stopping at places which are neither their main continuous domiciles nor place of work either for leisure or in the context of business activities or study [9]).
Định nghĩa này không khẳng định việc phải lưu trú qua đêm hoặc tham quan ở nước ngoài và do vậy chấp nhận du lịch nội địa là tồn tại. Mặt khác, bên cạnh mục đích giải trí, định nghĩa đã chấp nhận các hình thức du lịch mới như MICE chẳng hạn.
Định nghĩa của các học giả Trung Quốc cũng đồng quan điểm nhưng có đưa thêm điều kiện nảy sinh hoạt động du lịch vào trong định nghĩa:
(D4) “Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hòa tất cả các mối quan hệ và hiện tượng do việc lữ hành và lưu trú tạm thời dẫn tới, mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hóa”[10]
Theo đó, du lịch có thể được xem là giúp con người giải quyết những nhu cầu tâm, sinh lý khác với nhu cầu tối thiểu để con người tồn tại.
Một định nghĩa khác cũng từ Trung Quốc : “Du lịch là tổng hòa hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện”[11]. Định nghĩa này nhấn mạnh các khía cạnh kỹ thuật mang đậm tính du lịch, nhưng đi sâu vào từng khía cạnh thì có thể tạo ra thêm những tranh luận theo hướng xa vời hoặc quá rộng với vấn đề chính ở đây.
Neil Leiper (1979) đã đề ra một định nghĩa khác phù hợp với bốn trong số năm đặc điểm của du lịch do Burkart và Medlik đề xướng nhưng ông không dừng lại ở khái niệm hỗn hợp, mà ông cho rằng “du lịch là một hệ thống bao gồm đến việc đi lại tùy thích và việc lưu trú tạm thời của những người đi xa khỏi nơi thường trú từ một đêm trở lên, ngoại trừ những chuyến đi có mục địch chính là kiếm tiền từ những địa điểm trên hành trình (It is the system involving the discretionary travel and temporary stay of persons away from their usual place of residence for one or more nights, excepting tours made for the primary purpose of earning remuneration from points en route.) Hệ thống này gồm năm yếu tố được sắp xếp trong các kết nối không gian và chức năng, đó là: du khách, nơi xuất phát, tuyến hành trình, nơi đến, và ngành công nghiệp du lịch. Có các đặc tính của một hệ thống mở, tổ chức của năm yếu tố này vận hành trong môi trường rộng lớn hơn mà nó tương tác: tự nhiên, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, kỹ thuật công nghệ[12].


[1] Trần Thị Thúy Lan (2005: 8–9) và Nguyễn Đình Quang, Giáo trình tổng quan du lịch, Hà Nội: Nxb Hà Nội.
[2] Gilbert D.C., Conceptual issues in the meaning of Tourism. Nguồn: Cooper C.P. (biên tập, 1990: 4–27), Progress in Tourism, Recreation and Hospitality Management, Vol.2, London: Belhaven; được dẫn lại bởi Stephen Williams (biên tập, 2004: 50–52), Tourism: Critical Concepts in the Social Science, volume 1: The nature and structure of tourism, London: Routledge.
[3] Norbert Vanhove (2005:2), The economics of tourism destination, Oxford: Elsevier Butterworth Helnemann.
[4] Trần Thị Thúy Lan (2005:9)
[5] Là nằm viện bởi bệnh tật, tai nạn chứ không phải hình thức du lịch kết hợp chữa bệnh.
[6] Norbert Vanhove (2005:2)
[7] Karan Raj (2002:357), Modern Dictionary Of Tourism, Dehli: IVY PUBLISHING HOUSE.
[8] Lưu ý có một số tác giả dùng chữ “du lịch” để dịch nghĩa cho travel và ngược lại. Điều này có thể đúng trong những trường hợp nào đó nhưng ở đây thì không. Từ điển Oxford định nghĩa cho “travel (verb) to go from one place to another, especially over a long distance; to go or move at a particular speed, in a particular direction, or a particular distance”.
[9] Norbert Vanhove (2005:2)
[10] Đổng Ngọc Minh (2001:13) và Vương Lôi Đình (chủ biên), Kinh tế du lịch và Du lịch học, Nguyễn Xuân Quý dịch, Cao Tự Thanh hiệu đính, Tp.Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ (bản dịch và hiệu đính có rất nhiều lỗi).
[11] Trần Văn Thông (2002:21), Tổng quan Du lịch, Tp.HCM: ĐH Văn Lang lưu hành nội bộ.
[12] Nell Lelper (1979:403–404), The framework of Tourism: Towards a Definition of Tourism, Tourist, and the Tourist Industry, Annals of Tourism Research – Oct 1979.

Định nghĩa Du lịch

A."Du lịch”
Khi nhắc đến “du lịch”, người ta thường nghĩ ngay đến những hoạt động của con người đi đến một nơi nào đó để ngoạn cảnh, nghỉ ngơi, vui chơi.
Ở tài liệu này, một số thuật ngữ được dùng như sau:
§ Du lịch (tourism) khi chỉ ngành kinh tế công nghiệp du lịch, việc nghiên cứu khoa học du lịch thì dùng với nghĩa bao gồm cả ngành lữ hành (travel) và ngành phục vụ (hospitality).
§ Lữ hành (travel) ở đây được hiểu là một hoạt động, là bất kỳ chuyến đi nào của con người đi từ nơi này đến nơi khác, không kể xa hay gần, để làm việc hay tiêu khiển hoặc kết hợp cho nhiều mục đích khác nhau, bằng bất cứ phương tiện vận tải thủy, bộ hay trên không. Khách lữ hành (traveler) gồm cả khách du lịch, commuter (những lữ khách đi lại mỗi ngày để làm việc), nhà ngoại giao, dân di trú (những người làm công đến lưu trú ít hơn một năm), du mục, tị nạn, cũng như những lữ khách khác (không lẫn lộn với lữ hành theo luật DL Việt Nam).
§ Khách (visitor) dùng chung cho: du khách hay khách du lịch (tourist), khách tham quan (excursionist, same-day visitor) và lữ khách (traveler). Thuật ngữ này được dùng trong thống kê du lịch, khác với hành khách (passenger) được dùng trong thống kê của ngành vận tải.
1)     Từ “du lịch” trong ngôn ngữ Việt Nam và Trung Quốc
§        Từ “du lịch” trong tiếng Việt có nguồn gốc từ Hán – Việt; “du” có nghĩa là đi chơi; “lịch” có nghĩa là sự từng trãi, thấy nhiều, biết nhiều.
§        Trung Quốc gọi du lịch là “quang quang” hay “lữ du” do rút gọn từ “lữ hành du lãm” nghĩa là chuyến đi chơi đến nơi có phong cảnh đẹp.
2)     Từ “tour” trong ngôn ngữ Tây phương
Từ “tour” được du nhập vào tiếng Anh khoảng giữa thế kỷ XVII từ tiếng Pháp cổ là “turn”; từ này nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “tornos” và được Latin hóa là “tornare”, có nghĩa là dụng cụ tiện hay vòng tròn; sự chuyển động quanh một tâm hoặc trục. Trong tiếng Anh hiện đại:
§“tour” có nghĩa là hành trình đi về để vui chơi, nghỉ ngơi, kinh doanh, trình diễn …
§ “tourism” để chỉ các hoạt động lữ hành để vui thú và cũng chỉ ngành kinh doanh cung cấp chổ ở, dịch vụ và giải trí cho lữ khách.
Như vậy có thể nói, ý nghĩa của “du lịch” là:
§  do nhiều mục đích khác nhau mà người ta đi đến một nơi nào đó rồi quay về;
§   những mục đích này không phải để giải quyết những nhu cầu hằng ngày như đi làm việc, đi học, đi chợ, đi ăn ngoài, đi dạo phố …

B. Bốn quan điểm nhìn nhận du lịch

1) Du khách
2) Ngành kinh doanh cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho du khách
3) Chính quyền địa phương (The government of the host community)
4) Cộng đồng cư dân địa phương (The host community)

C. Định nghĩa du lịch



1) Du lịch là hỗn hợp của các hiện tượng và những mối quan hệ
2)     Du lịch là một hoạt động đặc thù

3)     Nhìn nhận du lịch từ các khía cạnh kỹ thuật
4)     Du lịch là một hoạt động kinh tế
5)     Định nghĩa nhìn từ yếu tố “cầu”
6)     Định nghĩa nhìn từ yếu tố “cung”