Trước thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, du lịch hầu như được coi
là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quí tộc và người ta chỉ coi đây như là một
hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ này, người ta
coi du lịch như một hiện tượng xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống và
nhận thức con người[1].
Walter Hunziker và Kurt Krapf (Thụy Sĩ) là hai trong số
những người tiên phong nghiên cứu về khoa học du lịch đã rút ra bản chất của du
lịch là gồm cả hoạt động của con người lẫn kinh tế. Trong lý thuyết chung về du
lịch được công bố năm 1942, các tác giả đã đưa ra khái niệm được xem là lâu đời
nhất được nhiều người nhìn nhận, đó là:
(D1) “Toàn bộ các mối
quan hệ và hiện tượng liên quan đến việc lưu trú của người ngoại quốc tại một
địa phương với điều kiện là họ không học chuyên tu, không tham gia hoạt động có
nhận thù lao dù lâu dài hay tạm thời” (“The
totality of relationships and phenomena linked with the stay of foreigners in a
locality provided they do not exercise a major, permanent or temporary
remunerated activity” [2];
Nguồn khác: “being a
sum of relations and phenomena resulting from travel and stay of non–residents,
in so far a stay does not lead to permanent residence and is not connected with
any permanent or temporary earning activity” [3])
Bản dịch của Trần Thị Thúy Lan và Nguyễn Đình Quang [4] “là
tổng hợp các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của
người ngoài địa phương – những người không có mục đích định cư và không liên
quan đến bất cứ hoạt động kiếm tiền nào”
Hunziker và Krapf xem du lịch như là hiện tượng phức hợp gồm
phạm vi toàn bộ các mối quan hệ khác nhau giữa du khách và dân cư địa phương.
Dù đưa ra được ý niệm bản chất của du lịch có liên quan đến xã hội nhưng về
quan điểm kỹ thuật thì định nghĩa này còn thiếu sót, như:
§
Chỉ đặt trọng tâm trên việc sử dụng các cơ sở
lưu trú như là thành phần cần thiết của ngành du lịch mà không chú trọng đến
các yếu tố khác như vận chuyển, cung cấp dịch vụ … nhất là các doanh nghiệp giữ
nhiệm vụ trung gian: tổ chức du lịch, sản xuất sản phẩm du lịch …
§
Đối tượng chủ thể là du khách chỉ được xác định
là người ngoại quốc – nói cách khác là du lịch nội địa đã bị loại trừ hoàn
toàn.
§
Không tính đến việc du lịch thương mại, công vụ.
§
Việc nằm bệnh viện đơn thuần[5]
cũng có thể được gán ghép là “đi du lịch” !
Cũng về khía cạnh kỹ thuật, chỉ duy nhất ở định nghĩa này là
ta có thể loại bỏ hình thức “du học” ra khỏi khái niệm du lịch. Nói như vậy
không có nghĩa là du học sinh hoàn toàn không có tham gia vào lĩnh vực du lịch,
ví như cá nhân du học sinh hay cùng đồng môn lữ hành đâu đó ngoài giờ học. Về
khía cạnh thống kê kinh tế – du lịch, dù rằng hoạt động lữ hành này có đóng góp
cho nền kinh tế tại quốc gia du học nhưng có đáng kể để đưa giới du học sinh
vào biểu thống kê chính thức hay du học – du lịch có là một loại hình du lịch
đặc thù? Việc phân tích xa hơn nữa mối quan hệ giữa “du học” và “du học sinh”
với hoạt động du lịch để có thể đánh giá, định nghĩa về khái niệm du lịch là
vấn đề không dễ dàng.
Tuy nhiên công trình của các tác giả Thụy Sĩ là nền tảng cho
việc xây dựng nhiều định nghĩa du lịch sau đó. Cách tiếp cận của này đã được
Burkart và Medlik khai triển thêm vào năm 1974. Hai ông đề xuất nên phân biệt
giữa khái niệm và các khía cạnh kỹ thuật trong các định nghĩa du lịch. Theo đó,
du lịch có năm đặc điểm (điều này vẫn còn được áp dụng đến ngày nay)[6]:
1. Du
lịch là hỗn hợp của những hiện tượng và các mối quan hệ hơn là chỉ một thành
tố.
2. Những
hiện tượng và các mối quan hệ này phát sinh từ sự vận động của con người đi đến
và lưu trú tại nhiều nơi đến khác nhau; có một yếu tố động (cuộc hành trình) và
một yếu tố tĩnh (việc lưu trú).
3. Cuộc
hành trình đến và lưu trú tại địa phương là nơi không phải chổ ở và chổ làm
việc thường xuyên, để rồi du lịch tạo ra những
hoạt động đặc thù khác biệt với những
hoạt động bình thường của cộng đồng cư dân sở tại.
4. Việc
lưu trú mang đặc tính tạm thời, ngắn hạn.
5. Nơi
đến không phải là nơi làm việc được trả lương.
Năm 1981, Burkart và Medlik đưa ra định nghĩa du lịch là:
(D2) “hiện tượng phát sinh từ các chuyến thăm
tạm thời (hoặc lưu trú xa nhà) ngoài nơi cư ngụ bình thường cho bất kỳ lý do
nào mà không phải là làm việc để nhận thù lao tại nơi đến thăm” (“the phenomenon arising from temporary visits
(or staying away from home) outside the normal place of residence for any
reason other than following an occupation remunerated from within the place
visited” [7]).
Ở định nghĩa này, nếu mục đích lữ hành và lưu trú tại nơi
đến không phải để làm việc được trả lương thì tất cả các mục đích khác đều là
du lịch? Nếu nhìn ở khía cạnh tích cực thì điều này cho phép nhiều loại hình du
lịch được bao hàm (du lịch y tế, du lịch MICE, …) nhưng cũng có những điểm yếu
nhất định. Ví dụ những người đi đến một nơi xa để thăm viếng và lưu trú lại để
chăm sóc người thân (bị bệnh chẳng hạn) có được xem là đi du lịch? Cũng cần
thận trọng lưu ý cách sử dụng từ ngữ ở đây. Trường hợp ở ví dụ này, những người
đi thăm viếng đó nên được gọi là lữ khách (traveler)
và nếu được thống kê thì xếp vào loại hình kinh tế lữ hành (travel)[8].
Lữ hành với du lịch, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Nhưng ở đây là đang bàn
về khái niệm du lịch – tourism chứ
không phải lữ hành – travel.
Cũng từ công trình nghiên cứu của Walter Hunziker và Kurt
Krapf, đại hội thường niên năm 1981 ở Cardiff (Wales, Anh Quốc) của Hiệp hội
Quốc tế các Chuyên gia về Du lịch học – AIEST (Association Internationale
d’Experts Scientifiques du Tourisme), theo đề xuất của Kaspar, xác định du lịch
là:
(D3) “Tổng thể các mối tương quan và hiện tượng
phát sinh từ việc người ta đi đến, dừng lại tại nơi không phải để định cư cũng
không phải để làm việc; với mục đích là giải trí, hoặc giải quyết công việc hay
nghiên cứu học tập” (The entirety of
interrelations and phenomena which result from people traveling to, and
stopping at places which are neither their main continuous domiciles nor place
of work either for leisure or in the context of business activities or study
[9]).
Định nghĩa này không khẳng định việc phải lưu trú qua đêm
hoặc tham quan ở nước ngoài và do vậy chấp nhận du lịch nội địa là tồn tại. Mặt
khác, bên cạnh mục đích giải trí, định nghĩa đã chấp nhận các hình thức du lịch
mới như MICE chẳng hạn.
Định nghĩa của các học giả Trung Quốc cũng đồng quan điểm
nhưng có đưa thêm điều kiện nảy sinh hoạt động du lịch vào trong định nghĩa:
(D4) “Du lịch là một
hiện tượng kinh tế xã hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, là
sự tổng hòa tất cả các mối quan hệ và hiện tượng do việc lữ hành và lưu trú tạm
thời dẫn tới, mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hóa”[10]
Theo đó, du lịch có thể được xem là giúp con người giải
quyết những nhu cầu tâm, sinh lý khác với nhu cầu tối thiểu để con người tồn
tại.
Một định nghĩa khác cũng từ Trung Quốc : “Du lịch là tổng hòa hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn
tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch,
khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện”[11].
Định nghĩa này nhấn mạnh các khía cạnh kỹ thuật mang đậm tính du lịch, nhưng đi
sâu vào từng khía cạnh thì có thể tạo ra thêm những tranh luận theo hướng xa vời
hoặc quá rộng với vấn đề chính ở đây.
Neil Leiper (1979) đã đề ra một định nghĩa khác phù hợp với
bốn trong số năm đặc điểm của du lịch do Burkart và Medlik đề xướng nhưng ông không
dừng lại ở khái niệm hỗn hợp, mà ông cho rằng “du lịch là một hệ thống bao gồm đến việc đi lại tùy thích và việc
lưu trú tạm thời của những người đi xa khỏi nơi thường trú từ một đêm trở lên,
ngoại trừ những chuyến đi có mục địch chính là kiếm tiền từ những địa điểm trên
hành trình (It is the system
involving the discretionary travel and temporary stay of persons away from
their usual place of residence for one or more nights, excepting tours made for
the primary purpose of earning remuneration from points en route.) Hệ thống
này gồm năm yếu tố được sắp xếp trong các kết nối không gian và chức năng, đó là:
du khách, nơi xuất phát, tuyến hành trình, nơi đến, và ngành công nghiệp du
lịch. Có các đặc tính của một hệ thống mở, tổ chức của năm yếu tố này vận hành trong
môi trường rộng lớn hơn mà nó tương tác: tự nhiên, văn hóa, xã hội, kinh tế,
chính trị, kỹ thuật công nghệ[12].
[1] Trần Thị
Thúy Lan (2005: 8–9) và Nguyễn Đình Quang, Giáo
trình tổng quan du lịch, Hà Nội: Nxb Hà Nội.
[2] Gilbert
D.C., Conceptual issues in the meaning of
Tourism. Nguồn: Cooper C.P. (biên tập, 1990: 4–27), Progress in Tourism, Recreation and Hospitality Management, Vol.2, London:
Belhaven; được dẫn lại bởi Stephen Williams (biên tập, 2004: 50–52), Tourism: Critical Concepts in the Social
Science, volume 1: The nature and
structure of tourism, London:
Routledge.
[3] Norbert
Vanhove (2005:2), The economics of
tourism destination, Oxford:
Elsevier Butterworth Helnemann.
[4] Trần Thị
Thúy Lan (2005:9)
[5] Là nằm
viện bởi bệnh tật, tai nạn chứ không phải hình thức du lịch kết hợp chữa bệnh.
[6] Norbert
Vanhove (2005:2)
[7] Karan
Raj (2002:357), Modern Dictionary Of
Tourism, Dehli: IVY PUBLISHING HOUSE.
[8] Lưu ý có
một số tác giả dùng chữ “du lịch” để dịch nghĩa cho travel và ngược lại. Điều này có thể đúng trong những trường hợp
nào đó nhưng ở đây thì không. Từ điển Oxford
định nghĩa cho “travel (verb) to go from
one place to another, especially over a long distance; to go or move at a
particular speed, in a particular direction, or a particular distance”.
[9] Norbert
Vanhove (2005:2)
[10] Đổng
Ngọc Minh (2001:13) và Vương Lôi Đình (chủ biên), Kinh tế du lịch và Du lịch học, Nguyễn Xuân Quý dịch, Cao Tự Thanh
hiệu đính, Tp.Hồ Chí Minh: Nxb Trẻ (bản dịch và hiệu đính có rất nhiều lỗi).
[11] Trần
Văn Thông (2002:21), Tổng quan Du lịch,
Tp.HCM: ĐH Văn Lang lưu hành nội bộ.
[12] Nell
Lelper (1979:403–404), The framework of Tourism:
Towards a Definition of Tourism, Tourist, and the Tourist Industry, Annals
of Tourism Research – Oct 1979.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét