Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

Địa lý Du lịch Biển Việt Nam (3) - Giới thiệu chung



PHẦN 1 Giới thiệu chung

Biển Việt Nam bao bọc phía đông và phía tây (tây nam) lãnh thổ, cả hai đều thuộc Biển Đông; quốc tế gọi là biển Hoa Nam (South China sea), Philippines gọi là Biển Luzon, Biển Tây; có đề nghị đổi tên là Biển Đông Nam Á; Trung Quốc gọi là Nam Hải [[1]].
Biển Đông ở rìa tây Thái Bình Dương, được bao bọc bởi lục địa châu Á về phía tây và phía bắc; đảo Đài Loan, quần đảo Philippines về phía đông; đảo Kalimantan ở phía nam. Phía bắc Biển Đông là eo Đài Loan thông qua biển Hoa Đông; phía đông qua eo Bashi giữa Đài Loan và đảo Luzon (Philippines) thông trực tiếp ra Thái Bình Dương, và thông qua biển Sulu (Philippines và Malaysia); phía tây nam qua eo Malacca để thông ra biển Andaman thuộc Ấn Độ Dương; phía nam thông qua biển Java (Indonesia).
Là biển lớn thứ hai trong các biển thuộc Thái Bình Dương và thứ ba trên toàn thế giới, Biển Đông trải rộng từ vĩ tuyến 3° bắc lên đến vĩ tuyến 25°10 bắc và từ kinh tuyến 100° đông đến 121° đông, diện tích 3,4 triệu km² [Lê Đức Tố,2003: 1]. Biển có độ sâu trung bình 1.140 mét, tại khu vực giữa Hoàng Sa và Trường Sa có điểm sâu đến 5.567 mét. Thềm lục địa rất rộng, về phía bắc ra cách cửa sông Hồng 500km – cách nam đảo Hải Nam 100km, phía nam nối liền Việt Nam với Thái Lan, Cam–pu–chia, Malaysia và Indonesia; riêng đoạn ven b Trung Bộ Việt Nam thì rất hẹp, từ mũi Ba Làng An (Quảng Ngãi) đến mũi Dinh (Ninh Thuận) chỉ rộng trung bình 50km, nơi hẹp nhất 30km ở mũi Đại Lãnh.
Về mặt tự nhiên, Biển Đông có hai đặc tính quan trọng là biển gần kín và nội chí tuyến gió mùa với sự phân hóa bắc nam và sự biến đổi theo mùa rõ rệt [Vũ Tự Lập,2010: 271 – 272].
Biển đóng vai trò quan trọng và to lớn không chỉ với chín quốc gia, một vùng lãnh thổ bao quanh mà của cả khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thế giới. Đây là nguồn tài nguyên để phát triển nền kinh tế biển phong phú và đa dạng, từ ngư nghiệp, nông nghiệp biển, công nghiệp biển – khai khoáng cho đến dịch vụ – du lịch, giao thông vận tải… nổi bật là tài nguyên hải sản, du lịch và khoáng sản. Trên biển có nhiều ngư trường lớn, là nguồn sinh sống trực tiếp của khoảng 300 triệu người dân thuộc các quốc gia quanh đó. Các đảo, bờ biển, vùng đất duyên hải khu vực nội chí tuyến và xích đạo có môi trường tự nhiên rất tốt, phù hợp cho việc phát triển du lịch quanh năm.
Nơi này được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển hay như Việt Nam, Brunei, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc (và Singapore đóng vai trò quan trọng trong kỹ nghệ lọc dầu). Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ mét khối [Trần Bông,2009].
Bên cạnh nguồn tài nguyên thiên nhiên, Biển Đông nằm trên tuyến vận tải rất quan trọng của thế giới. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó [Trần Bông] phải đi qua tuyến này. Các tuyến hàng không và hàng hải quốc tế chủ yếu giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều đi qua đây. Tuyến hàng hải quốc tế có tính huyết mạch nối liền Tây Âu, qua Trung Đông Ấn Độ Dương, đến Đông Nam Á qua Biển Đông và đi Đông Bắc Á, với hai hải cảng lớn của thế giới án ngữ hai đầu là Hồng Kông và Singapore [Lê Đức Tố,2003: 2]. Chỉ riêng dầu hỏa, lượng tàu chở dầu trên tuyến này lớn gấp ba lần lượng tàu chạy qua kênh Suez và gấp năm lần lượng tàu qua kênh đào Panama. Gần 20% lượng dầu thô trên thế giới được chuyên chở ngang qua Biển Đông; trong đó có hơn 90% nhu cầu của Nhật. Hơn 50% lượng hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc vận chuyển qua đây [Lê Đức Tố,2003: 2]. Tuyến vận tải biển này đặc biệt quan trọng đến sự sống còn của các nền kinh tế ở nhiều quốc gia Đông Á và Đông Nam Á. Địa bàn của toàn tuyến hàng hải này không chỉ mang chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn của cả châu Á – Thái Bình Dương và Hoa Kỳ.
Chủ quyền trên Biển Đông đang bị tranh chấp, đối tượng chính là hai quần đảo san hô và các bãi ngầm nằm khu vực giữa và nam Biển Đông. Không tính các va chạm, xung đột nhỏ hay nội chiến, đã có hai cuộc chiến xảy ra:
• Thời gian 15 – 20/I/1974 tại Hoàng Sa: Trung Quốc dùng không quân và hải quân đánh chiếm nhóm đảo phía tây đang do chính quyền Việt Nam Cộng hòa nắm giữ.
• Thời gian 14/III – 06/IV/1988 tại Trường Sa: Trung Quốc dùng hải quân đánh chiếm 6 nhóm đảo, đá ngầm đang do Việt Nam nắm giữ.
Có năm quốc gia và một vùng lãnh thổ tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông:
• Bru–nây không có đảo nào song vẫn yêu sách chủ quyền.
• Đài Loan chiếm đảo Ba Bình năm 1956. Đến 2005 cắm mốc trên bãi cạn Bàn Than.
• Malaysia tranh chấp với Việt Nam đảo An Bang, Thuyền Chài trong quần đảo Trường Sa. Đang chiếm đóng 7 đảo: Lusia, Sắc Lốt, Hoa Lau, Kiệu Ngựa, Kỳ Vân, Én Ca, Thám Hiểm.
• Philippines tuyên bố chủ quyền trên 53 hòn đảo của nhà nước Kalayaan (Vùng đất tự do, do một người Philippines tuyên bố tự lập ngày 15/V/1956. Đến 1972 thì Kalayaan chính thức sáp nhập với tỉnh Palawan [[2]]); hiện đang tranh chấp với Việt Nam hầu hết các đảo trong quần đảo Trường Sa, trừ đảo Trường Sa Lớn. Hiện chiếm đóng 9 đảo: Song Tử Đông, Thị Tứ, Đảo Dừa, Loại Ta, Loại Ta Tây, Bình Nguyên, Vĩnh Viễn, Công Đo, bãi cạn Cỏ Mây.
• Trung Quốc tuyên bố chủ quyền dựa trên những ghi chép lịch sử (về những chuyến tàu buôn đã đến hoặc miêu tả) và chứng cứ là việc tìm thấy các đồng tiền xu thời Hán và các đồ gốm trên quần đảo Hoàng Sa [[3]]. Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974; và đang tranh chấp với Việt Nam trên phạm vi toàn quần đảo Trường Sa. Năm 1988 đã đưa quân đánh chiếm 6 đảo, đá (Chữ Thập, Châu Viên, Gạc–ma, Xu–bi, Huy–gơ, Ga–ven). Tháng I/1995 đánh chiếm thêm bãi đá Vành Khăn.
• Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo dựa trên vị trí lịch sử và trên nguyên tắc thềm lục địa. Hiện thực hiện chủ quyền và đóng giữ trên 21 đảo với 33 điểm đóng quân tại quần đảo Trường Sa. “Việt Nam có đầy đủ các chứng cứ lịch sử minh bạch chứng minh chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời chủ trương giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình” [ANTĐ 24/10/2010].


[1] Tài liệu này dùng tên “Biển Đông” để chỉ Biển Đông; “biển phía Đông” và “biển phía Tây” để chỉ các vùng biển bao quanh lãnh thổ Việt Nam.
[2] Vì sự kiện này mà vào thời gian đó Đài Loan đã gửi lực lượng hải quân tới chiếm các đảo và lập một căn cứ ở đảo Ba Bình cho đến ngày nay.
[3] Hải phận mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền là một cương vực được giới hạn bởi chín đoạn vẽ rời rạc (từ 1948 là 11 đoạn. Đến 1953 thì bỏ 2 đoạn trên vịnh Bắc Bộ), bao trọn bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên Biển Đông là quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Pratas (Đông Sa) và bãi Macclesfield (quần đảo Trung Sa) với khoảng 75% diện tích mặt nước của biển Đông. Việt Nam gọi đây là “Đường Lưỡi Bò”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét